|
Văn hiến Thăng Long trong cuộc sống hàng ngày
Văn hiến thăng long không chỉ thể hiện ở những tư tưởng lớn, tình cảm lớn, ở những hành vi sáng tạo và dũng cảm nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những thành tựu lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. văn hiến thăng long còn bộc lộ những nét tốt đẹp của nó trong đời sống thường ngày của nhân dân thủ đô từ trong sinh hoạt vật chất đến đời sống tâm linh và trong thuần phong mĩ tục của gia đình, hàng xóm… Con người Việt Nam trước hoàn cảnh vừa thuận lợi vừa vô vàn khó khăn của môi trường thiên nhiên, đã phát huy những phẩm chất tinh thần và kinh nghiệm thực tế của ông cha để khai thác thiên nhiên một cách thông minh và sáng tạo, phục vụ lao động sản xuất, chiến đấu, xây dựng cuộc sống. Sự thích ứng với hoàn cảnh thiên nhiên được thể hiện trên mọi lĩnh vực. Riêng trên các mặt sinh hoạt vật chất như ăn, mặc, ở thì sự thể hiện đó khá rõ nét và phong phú. Mỗi miền lãnh thổ đều có những nét đặc sắc của riêng mình. Đặc biệt là những nét đặc sắc của Thăng Long nơi thủ đô văn vật, đất Kinh Kỳ - Kẻ Chợ thể hiện một trình độ văn hóa khá cao trong đời sống vật chất.
Ẩm thực Hà Nội
Việt Nam vốn là một nước ở vùng nhiệt đới, không có đồng cỏ nên săn bắn không thuận lợi bằng hái lượm. Khi phát triển nông nghiệp lúa nước thì trồng cây có ưu thế hơn chăn nuôi. Trong tình hình này, thức ăn thực vật là chủ yếu, bao gồm lúa gạo, ngũ cốc, các loại rau. Thức ăn động vật như thịt gia cầm, gia súc thường chỉ dành cho việc tế lễ và cúng giỗ, họp mặt. Nguồn thức ăn đạm động vật chủ yếu là thủy sản: cá, tôm, cua, ốc. Là trung tâm chính trị - kinh tế và giao lưu văn hóa, Thăng Long-Hà Nội còn có điều kiện thuận lợi hơn nữa để tiếp thu kinh nghiệm chế biến món ăn từ các miền của đất nước và của cả nước ngoài như: Trung Quốc, Ấn Độ. Sáng tạo và khéo léo trong kĩ thuật chế biến, sự lịch lãm và tinh tế trong thưởng thức món ăn, con người Thăng Long-Hà Nội đã đặt dấu ấn văn hóa ẩm thực của mình trong nhiều thức ăn, đồ uống khác nhau. Thăng Long có nhiều món ăn đặc sản, đơn cử như vài thứ mà Đại Nam nhất thống chí của sử quán triều Nguyễn có nhắc tới là bánh phục linh phố Hàng Đường và phường Đông Xuân hoặc cốm Vòng là thứ cốm dẹp ở xã Dịch Vọng tốt nhất, nem chua, chả cá cũng khá nhiều nơi làm, nhưng không nơi nào sánh kịp nem Vẽ và chả cá Hà Nội với kĩ thuật chế biến và nghệ thuật thưởng thức tinh vi, tế nhị. Ngày nay, món quà phở thì trong Nam ngoài Bắc, thành thị thôn quê, nơi nào cũng có nhưng cũng chỉ phở Hà Nội mới ngon, hương vị riêng không đâu trộn lẫn được. Văn hóa ẩm thực của Thăng Long-Hà Nội không chỉ thể hiện ở chỗ chế biến thức ăn ngon, mà lại có một trình độ điêu luyện về nghệ thuật tổ chức bữa ăn và cách thưởng thức món ăn. Người Thăng Long-Hà Nội tinh tế và sành điệu trong việc ăn uống, tuy đôi lúc tỏ ra quá kĩ tính hoặc có chút cầu kì. Quý ở tinh, không quý ở nhiều, coi trọng gia vị với nhiều loại rau thơm. Mâm, bát, đĩa dọn lên sạch sẽ, khô ráo, xếp đặt tinh tươm đâu vào đấy. Ngồi mâm phải ngay ngắn, ăn uống từ tốn, khoan thai…
Văn hóa trang phục Thời xưa, áo quần người Việt Nam cũng đã thích ứng với những điều kiện của khí hậu, của sản xuất và sinh hoạt mỗi vùng và ở mỗi mùa khác nhau. Trong hoàn cảnh xứ nhiệt đới, người ta thường dùng quần áo bằng vải, lụa mỏng, thoáng mát. Phụ nữ mặc váy, mặc yếm. Đàn ông thường đóng khố, cởi trần. Người ta thường đi đất, che mưa nắng bằng nón lá, áo tơi.
Lụa làng Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội)
Quần áo thì giản dị cho phù hợp với thời tiết, nhưng trang sức thì lại được đặc biệt quan tâm. Từ xa xưa, đã có đủ loại đồ trang sức với nhiều kiểu khác nhau, bằng xương, bằng vỏ ốc, vỏ trai, bằng đá quý… như: vòng tay, vòng cổ, vòng chân, khuyên tai… Không chỉ con gái, mà cả con trai cũng ưa chuộng đồ trang sức. Tình hình này nói lên tính lạc quan, yêu đời của người Việt. Trong hoàn cảnh thiếu thốn, vẫn tìm cách làm đẹp thêm cuộc sống của mình. Có thể nói, ý thức thẩm mĩ trong trang sức đã nảy sinh rất sớm ở người Việt cổ và trở thành truyền thống đối với người Việt sau này. Dần dần, cùng với sự thay đổi và phát triển của tình hình kinh tế và xã hội, quần áo người Việt cũng ngày một cải tiến. Nhiều loại vải, lụa bền tốt hơn. Nhiều kiểu cách ăn mặc đẹp hơn. Có áo quần riêng khi lao động sản xuất, áo quần mặc trong nhà và áo quần mặc khi ra ngoài, áo quần ngày thường và áo quần ngày lễ tết, hội hè. Riêng đối với Thăng Long, những trang phục mang tính dân gian từ các địa phương và các kiểu quần áo du nhập từ nước ngoài đều được con người ở đây lựa chọn và cải biên thêm đẹp. Vải vóc quý, nhập từ nước ngoài vào, đều sử dụng sao cho thích hợp với nhu cầu có tính thẩm mĩ của người Thăng Long.
Triều đình Việt Nam nhiều lúc đã hạn chế nhập cảng gấm vóc, tơ lụa đắt tiền và khuyến khích dùng hàng nội hóa trong trang phục, trong nhân dân cũng như cả các tầng lớp thượng lưu và trong cung đình. Tuy nhiên, vải lụa đắt tiền chưa phải là điều quyết định cái đẹp của quần áo. Đối với người Thăng Long, chất liệu sử dụng có thể chỉ là vải lụa thô, nhưng từ việc lựa chọn chất vải, màu và kiểu dáng đến việc may cắt, đều có sự chăm chút tinh tế đến từng đường kim mũi chỉ. Quần áo phải bền chắc, tiện lợi nhưng không chỉ có thế. Trang phục của người Thăng Long còn phải đẹp, đẹp giản dị, trang nhã và hài hòa. Những gì hào nhoáng, xa hoa, sặc sỡ hoặc rườm rà, kiểu hoa hòe, hoa sói… đều không phải vẻ đẹp nền nã mà người Thăng Long ưa chuộng. 3. Văn hóa trong kiến trúc Trong lĩnh vực làm nhà ở, kiến thiết nơi cư trú, vấn đề thời tiết và khí hậu có ảnh hưởng quan trọng tới đời sống. Thời tiết và khí hậu ở Việt Nam có sự khác biệt lớn giữa hai mùa nóng lạnh. Ở miền Bắc, mùa rét thì ẩm ướt mưa phùn, gió bấc. Mùa hè thì nóng nực oi bức, cả ban ngày ban đêm. Chẳng những đồ ăn, đồ mặc phải thích nghi với thời tiết ấy, mà nhà ở cũng phải xây dựng thế nào để giảm bớt sự khắc nghiệt của thời tiết, tạo được ấm áp trong mùa đông, mát mẻ trong mùa hè.
Nhà mái ngói kiến trúc phù hợp với điều kiện khí hậu của Bắc Bộ
Bởi vậy, nhà ở của người Việt trước kia thường bằng tre, gỗ, nứa, lá với mái thấp, vách mỏng và thoáng. Khu nhà thường có ao, có vườn, chọn hướng nam thích hợp. Về sau, những ngôi nhà tường xây mái ngói mọc lên, thì yêu cầu về nhà ở thoáng đãng, có cây xanh, nước mát, nhưng vẫn luôn coi trọng nền nếp tương tự như cũ. Thăng Long từ trước đến nay vẫn có một cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Những cảnh quan sẵn có của thiên nhiên được bàn tay người chăm chút làm tăng thêm vẻ đẹp. Một thời, vua chúa thuở ấy đã cho trồng trên một vài tuyến đường toàn một loại cây, như cây liễu, cây hòe, (ngày nay còn có thể nhận thấy dấu tích qua những cái tên gọi của đường Liễu Giai, phố Hòe Nhai). Nhà ở của Thăng Long, trong khu hoàng thành xưa kia được xây dựng với những cung vua, phủ chúa nguy nga, lộng lẫy. Ngoài ra các chùa đền tôn nghiêm, cổ kính rải rác khắp nơi, trong các khu dân cư rộng lớn với đủ kiểu những ngôi nhà của các tầng lớp sĩ, nông, công, thương. Vùng ngoại vi kinh thành, nhà cửa làng xóm vẫn một vẻ đẹp hiền hòa sau lũy tre xanh, bên vườn tược xum xuê, ngoài kia ruộng đồng bát ngát. Khu các phố phường buôn bán, nhà cửa san sát, 36 phố phường đất chật người đông, người làm ăn buôn bán ở đây đã xây dựng nhà cửa một cách thích hợp nhất, trong hoàn cảnh cụ thể. Nhiều biện pháp rất sáng tạo được áp dụng như: xây nhà kiểu chồng diêm, giật cấp để bảo đảm thông thoáng và có chiều cao nhất định mà không vi phạm những quy định khắt khe của triều đình. Xây nhà trốn cột để lòng nhà khỏi bị hẹp lại trên lô đất vốn đã hẹp về chiều rộng. Xây nhà chia thành nhiều lớp lang, vừa phù hợp với lô đất vốn sâu về chiều dài, vừa bảo đảm có khoảng sân trống để đón khí trời và ánh sáng. Nét đặc sắc trong lĩnh vực nhà ở của người Thăng Long trước kia, cũng như người Hà Nội sau này là trang trí không cầu kì, cấu trúc không phức tạp, trái lại rất giản dị và chuộng tiện lợi, thích nghi với khí hậu và thời tiết. Người Thăng Long-Hà Nội luôn có ý thức tạo dựng xung quanh mình một môi trường trong sạch, một cảnh sắc thiên nhiên thích hợp với thú trang nhã.
Văn hóa tiêu dùng Phường hội ở Thăng Long vốn là trung tâm sử dụng và phát triển các ngành thủ công, có những nhu cầu to lớn và phức tạp về hàng hóa tiêu dùng. Tại đây phải thỏa mãn từ những nhu cầu của vua, quan đến binh lính, về nhu cầu của đông đảo người dân bình thường vốn rất khác nhau, những người sinh trưởng ở Thăng Long và những người từ nơi khác tới, rồi cả khách vãng lai là người trong nước hoặc nước ngoài tấp nập vào ra. Với 36 phố phường, Thăng Long-Hà Nội vừa là nơi sản xuất, vừa là thị trường quan trọng bậc nhất tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là những sản phẩm hàng thủ công và mĩ nghệ của hầu khắp đất nước. Thăng Long chẳng những đã duy trì và phát triển được những ngành nghề truyền thống của địa phương, mà còn thu hút ngày càng nhiều các ngành nghề thủ công, mĩ nghệ từ các nơi khác kéo đến. Thăng Long tự hào có Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ Đồng Ngũ Xã. Có giấy dó phường Hồ Khẩu, có hàng lĩnh lụa vùng Bưởi, có làng chạm gỗ ở Thiết Úng, khảm trai ở Cựu Lâu. Lại có nghề tiện từ Nhị Khê lên, nghề thuộc da và đóng giày từ Trúc Lâm tới. Ngoài ra còn có nhuộm điều Hàng Đào, nhuộm thâm Võng Thị, đan lát mây tre, chế biến thực phẩm… thật chẳng thiếu thứ gì. Bởi vậy, nói đến sản phẩm tiêu dùng của Thăng Long, không thể bỏ qua một đặc điểm lớn là sự dồi dào, phong phú và đa dạng, cả về khối lượng, chất lượng và chủng loại. Đối với những mặt hàng khi còn sản xuất và tiêu thụ ở nơi khác thì yêu cầu về chất lượng chỉ mới được đặt ra ở mức vừa phải, nhưng một khi đưa về thị trường Thăng Long thì chất lượng buộc phải đổi khác. Bởi vì mức sống vật chất và văn hóa của con người ở đây cao hơn. Sự lịch lãm, sành sỏi và thị hiếu ở đất Kinh Kỳ không dễ dàng chấp nhận những sản phẩm thua kém. Đòi hỏi chất lượng cao, đó là đặc điểm lớn thứ hai, ưu điểm nổi bật của các mặt hàng tiêu dùng của Thăng Long.
Trong quá trình phát triển sản xuất, Thăng Long đã thường xuyên thu hút được nhiều ngành nghề đặc sắc, với nhiều thợ tài giỏi, những tinh hoa của các địa phương tụ về. Việc tiếp xúc một cách tự nhiên giữa các ngành nghề, việc trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau giữa các phường thợ, cùng sự cạnh tranh, cọ xát trên thị trường, đã thực sự thúc đẩy việc cải tiến kĩ thuật, làm nên một truyền thống khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ, đã cho ra đời những mặt hàng tiêu dùng và giá trị thẩm mĩ cao. II. văn hiến thăng long trong đời sống tâm linh Ở thời đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Phật giáo và Đạo giáo rất được tôn sùng. Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên và hầu hết các nhà viết sử trước đây xuất phát từ quan điểm học thuyết Nho giáo, đã kịch liệt lên án những tác hại của hiện tượng mê tín trong Phật giáo và Đạo giáo. Các ông không công nhận trong hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ, sự sùng bài quá mức đối với Phật giáo và Đạo giáo là một điều tất yếu.
Chùa Láng
Dưới chế độ thống trị của phong kiến nước ngoài, nhân dân Việt Nam từng sống trong đau khổ không có lối thoát. Khi đất nước đã giành được độc lập, nhưng ở mỗi cuộc đời vẫn có những rủi ro không thể lường trước và cũng không thể giải thích được. Tình hình trên tất yếu đẩy người ta vào con đường mê tín, trông chờ sự cứu giúp của thần linh. Mặt khác, cả Phật giáo và Đạo giáo đều có những điều răn dạy về hành vi đạo đức, giáo dục tình yêu thương và cứu giúp lẫn nhau giữa người và người, do vậy những tôn giáo nói trên đã dễ dàng lôi kéo được sự đồng tình và tin tưởng của nhân dân. Về phía triều đình, để duy trì được trật tự xã hội và tiến hành mọi việc thuận lợi, các triều vua nhận rõ sự cần thiết phải đưa vào lực lượng trí thức đương thời. Bấy giờ đạo Nho chưa phải đã phổ biến trong quảng đại quần chúng nên chỗ dựa chủ yếu phải nhằm vào đội ngũ trí thức trong Phật giáo và Đạo giáo, nhiều người có học vấn cao. Lý Công Uẩn sinh ra và lớn lên tại nhà chùa, được sư Khánh Văn nhận làm con, sư Vạn Hạnh dạy dỗ. Rồi chính các nhà sư đã tích cực vận động đưa ông lên làm vua. Cũng chính các nhà sư, với tư cách là trí thức đương thời, lại tiếp tục giúp ông rất nhiều trong việc nội trị và ngoại giao. Không có gì khó hiểu, Lý Công Uẩn cũng như các vua nhà Lý về sau đều là những người mộ đạo, trong khi toàn dân mộ đạo. Việc tôn sùng quá mức đối với Phật giáo và Đạo giáo dẫn đến chiều hướng phát triển mê tín dị đoan cùng với việc xây dựng khắp nơi quá nhiều đền chùa, làm hao tổn nhiều sức người, sức của. Nhưng Phật giáo và Đạo giáo cũng đem lại những nhân tố tích cực, góp phần ổn định lòng dân, cổ vũ làm điều thiện, khai thác được nhiệt tình vốn tri thức của giới sư tăng, đạo sĩ, thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của xã hội. Sang đời nhà Trần, với sự sáng suốt của các vua Trần, nhất là với sự phê phán của tầng lớp trí thức theo Nho giáo, thì Phật giáo và Đạo giáo cũng dần dần bỏ bớt được những điều mê tín, trở thành những nhân tố hợp lí trong văn hiến Việt Nam. Thăng Long là trung tâm văn hóa, hội tụ tinh hoa của bốn phương đất nước, nên ngay từ thời Lý, khi mà "nhân dân quá nửa làm sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa" (Lê Văn Hưu), thì Thăng Long cũng là nơi tập trung nhiều nhất những chùa chiền, miếu mạo rải khắp kinh thành. Thăng Long thời ấy có những ngôi chùa xây dựng quy mô lớn, kiến trúc độc đáo. Chùa Diên Hựu như một bông sen lớn đồ sộ mọc giữa hồ, riêng cây cột đá đã cao 10 trượng (khoảng 30 mét).
Tháp Bảo Thiên 12 tầng, cao khoảng 80 mét, sừng sững bên hồ Lục Thủy. Thăng Long cũng có rất nhiều đạo quán. Tài liệu cũ cho biết thời thuộc Minh, ở Đông Quan có trên 200 ngôi chùa và 200 đạo quán. Thời Mạc, nhiều đạo quán được tu sửa và xây dựng thêm, có nhiều quán lớn nổi tiếng như Trấn Vũ Quán, Huyền Thiên Quán, Đồng Thiên quán, Đế Thích quán. Trong quá trình đi lên của đất nước, bên cạnh sự tồn tại của Phật giáo và Đạo giáo, nhân dân ta phát huy hơn nữa truyền thống lâu đời của dân tộc, có sự quan tâm đặc biệt đối với việc thờ cúng các vị anh hùng cứu nước và những người có công lập ấp, dựng làng, hay trong việc sáng lập ra những ngành nghề ở các địa phương. Tín ngưỡng Việt Nam có đặc điểm là sự dung hợp giữa tín ngưỡng Phật giáo, Đạo giáo với tín ngưỡng dân gian. Đặc điểm này càng được thể hiện rõ trên đất Thăng Long. Nguyên nhân sâu xa của sự dung hợp này là truyền thống yêu thương giúp đỡ nhau trong nhân dân, là tinh thần khoan dung của dân tộc và thái độ không thành kiến với những người khác mình về tư tưởng, quan điểm cũng như về tín ngưỡng. Còn nguyên nhân trực tiếp của sự dung hợp là trong bối cảnh xã hội Kinh Kỳ, cuộc sống đa dạng có nhiều mối giao thiệp và quan hệ làm ăn, buôn bán, thì đầu óc thực tế, thực dụng của các tầng lớp thị dân cũng có ảnh hưởng nhất định đến thế giới tâm linh của con người ở đây. Người ta không vì đạo này mà bác bỏ đạo kia, người ta không quan tâm và phân biệt đâu là nơi thờ Phật, đâu thờ Tiên, thờ Thánh, thờ Thần. Nhiều đền trở thành quán như đền Bích Câu. Nhiều quán trở thành chùa, như Đồng Thiên quán, Huyền Thiên quán… Nhiều chùa ở Phật điện chẳng những có tượng Phật mà còn có cả tượng thần Đạo giáo. Bên cạnh Tam Bảo thường có cả điện thờ Mẫu. Đền Tam Giáo ở Thượng Cát (Từ Liêm) còn 45 pho tượng các vị Phật, Thánh, Thần, Tiên tiêu biểu của cả ba giáo phái. Hoặc như chùa Hưng Ký (phố Minh Khai ngày nay), mới xây năm 1932, là một quần thể gồm cả chùa, đền, điện mẫu. Nơi nào cũng đều khói hương nghi ngút, được xem là những chuyện bình thường. Thăng Long có đền thờ thần núi (Tản Viên), thần sông (Tô Lịch).
Có Thăng Long tứ trấn, bốn ngôi đền thờ các vị thần trấn giữ bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc. Vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo được suy tôn thành đức Thánh Trần được thờ ở nhiều nơi (như ở đầu phố Lê Duẩn, đầu phố Hòe Nhai ngày nay). Vị công chúa huyền thoại Liễu Hạnh được suy tôn là Thánh Mẫu và là người mẹ bất tử, một trong tứ bất tử của Việt Nam, cũng có hàng trăm nơi thờ cúng ở Thăng Long và cả nước, nổi tiếng gần đây là phủ Tây Hồ bên bờ Hồ Tây. Nhân dân Thăng Long tôn kính tất cả các vị thánh thần ân đức. Các bậc anh hùng vì dân vì nước được thờ phụng ở các chùa, đền, quán, miếu. Nhưng cũng có nhiều người đổ xô đến những nơi vừa to đẹp, uy nghi, vừa nổi tiếng là rất thiêng có thể đáp ứng mọi thỉnh cầu của con nhang đệ tử. Người ta kéo đến phủ Tây Hồ để cầu xin được phát tài phát lộc, buôn bán gặp may, mọi việc làm ăn thuận buồm xuôi gió… Người ta thề bồi trước đền Quan đế (tức Quan Công), vị thánh nổi tiếng về tiết tháo trung nghĩa và lòng dạ quang minh chính đại, để mong thánh chứng giám. Các nho gia, sĩ tử thì đến đền Văn Xương (thờ vị thần chủ về văn học) để tỏ lòng tôn kính và cũng để cầu xin ngài phù hộ cho văn hay chữ tốt và đỗ đạt. Có thể coi đó là những biểu hiện cụ thể về ảnh hưởng đầu óc thực dụng của tầng lớp thị dân đông đúc ở thủ đô Thăng Long. Trong không khí tín ngưỡng nói chung, hầu hết các xã thôn ở khắp các miền đất nước đều có những ngày lễ hội. Thăng Long cũng như các nơi, có nhiều lễ hội ở đình, chùa, đền, miếu thuộc các làng khác nhau.
Nhưng lễ hội ở Thăng Long, nơi tập trung nhiều người vừa giàu có, vừa có trình độ văn hóa hơn so với các nơi khác trong toàn quốc, nên lại có nhiều nét đặc sắc. Lễ hội ở Thăng Long thường được tổ chức có bề thế, có quy mô tương đối lớn. Một số lễ hội mang tính chất tiêu biểu của cả nước. Lễ hội Gióng được tổ chức ở nhiều nơi (đều thuộc địa phận Hà Nội ngày nay) Phù Đổng, Xuân Đỉnh, Sóc Sơn, Chi Nam, Thanh Nhàn. Riêng hội Gióng ở Phù Đổng (Gia Lâm) lớn nhất có thể coi là long trọng, công phu nhất trong các lễ hội cổ truyền Việt Nam. Để ôn lại sự tích Thánh Gióng đánh giặc Ân, dân làng đã huy động vào cuộc diễn trận mấy trăm người trực tiếp tham gia và mấy trăm người phục dịch hiện trường. Ngoài ra, hàng vạn người dân các nơi xa gần đến dự. Hội đền thờ Hai Bà Trưng được tổ chức ở nhiều nơi, tập trung ở đền Hạ Lôi (huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc) và đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Tây). Hội đền Đồng Nhân (ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội ngày nay) tuy không phải là đền được xây dựng ngay trên những mảnh đất lịch sử có gắn bó trực tiếp với sự nghiệp Hai Bà, nhưng cũng được tổ chức rất long trọng. Đặc biệt do vị trí ở giữa kinh thành, nên trước đây Nhà nước phong kiến coi lễ hội Đồng Nhân là tế lễ của toàn quốc (quốc lễ) và cử quan về chủ lễ. Lễ hội ở Thăng Long thường được thể hiện với những nội dung, ý nghĩa sâu sắc và độc đáo, phần lớn các lễ hội đều thông qua việc diễn lại các tích xưa để nhớ đến anh hùng liệt sĩ có công lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tái hiện những chiến công hiển hách của dân tộc, vẻ hào hùng của quân dân ta đánh thắng quân xâm lược. Lễ hội đền Đồng Cổ bắt đầu khi vua nhà Lý cho rước thần trống đồng từ Đan Nê (Thanh Hóa) về Thăng Long dựng đền thờ, đã để lại dấu ấn không phai mờ trong trí tưởng tượng của người đời sau về quang cảnh cuộc lễ trang nghiêm, hùng tráng.
Trong cuộc lễ tất cả các quan lớn bé đứng trước án thờ thần và trước mặt đông đảo người dự hội, trịnh trọng đọc lời thề trung hiếu. Biết ơn và thờ cúng những anh hùng dân tộc trở thành một truyền thống của nhân dân Việt Nam và nhân dân Thăng Long – Hà Nội. Ngay cả đến thời nhà Nguyễn, không được nhắc tới công lao của nhà Tây Sơn thì nhân dân vẫn tổ chức ngày giỗ trận ở Đống Đa. Đến những thập kỉ gần đây, mỗi độ xuân về, người Hà Nội lại hồi tưởng về một Thăng Long mùa xuân Kỷ Dậu 1789, Thăng Long đã góp sức cùng quân đội Tây Sơn và nhân dân cả nước lập nên chiến công vĩ đại và hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Ngày nay, Hà Nội vẫn hàng năm thay mặt cho cả nước tổ chức lễ kỉ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, tưởng niệm anh hùng dân tộc Quang Trung với niềm thành kính thiêng liêng. Trong ngày hội, nhiều trò chơi dân gian, nổi bật là trò múa rồng tái hiện cảnh nhân dân 9 xã quanh đồn Đống Đa đốt rơm tẩm dầu tạo thành trận rồng lửa bao vây đồn giặc. Về hình thức, lễ hội dân gian cổ truyền vẫn là tính chất hội làng, nhưng lễ hội Thăng Long lại có những nét riêng của chốn phồn hoa đô hội. Cũng có trò chơi bắt chạch trong chum, nhưng trò này ở Thăng Long được thực hiện một cách tinh tế, uyển chuyển hơn nhiều nơi khác, thể hiện được phần nào tính thanh lịch và óc thẩm mĩ của người Thăng Long, loại bớt được những động tác suồng sã, thô kệch và lộ liễu của nghi thức tín ngưỡng phồn thực. Thăng Long có hội Láng với tích diễn Đốt pháo đấu thần khá độc đáo.
Có hội đền Đồng Nhân với nghi thức trang trọng tắm tượng bằng nước sông Hồng, với cuộc múa đền và lễ dâng hương do đội nữ quan đảm nhiệm. Có hội tế trâu đất ở cửa ô Đông Hà (phố Hàng Chiếu ngày nay), hội cờ ở Đông Ba (Thượng Cát, huyện Từ Liêm). Có trò chơi hất phết ở Đông Đồ (huyện Đông Anh), Cướp cầu ở Thúy Lĩnh (huyện Thanh Trì), đấu võ ở Đông Dư (huyện Gia Lâm) và rất nhiều trò chơi khác ở các hội làng: thi thổi cơm, thi dệt vải, thi bơi thuyền… thể hiện tính phong phú và hình thức đặc sắc của lễ hội Thăng Long. III. văn hiến thăng long qua thuần phong mỹ tục Chịu ảnh hưởng của đạo đức cổ truyền, lại được bổ sung bằng những quan điểm Nho giáo, tập quán sinh hoạt trong các gia đình Việt Nam thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt tôn ti trật tự giữa người trên, kẻ dưới, trong gia đình và dòng họ, đồng thời thể hiện sự gắn bó chặt chẽ, tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, gia tộc. Điều đó cũng diễn ra đối với mọi nhà ở Thăng Long-Hà Nội, nhưng trên một số vấn đề lại mang theo những nét đặc trưng của tính cách con người Thăng Long-Hà Nội. Ở đây, sự tuân thủ tôn ti trật tự được thể hiện một cách tự nhiên, nhằm xây dựng gia đình hòa thuận, trên kính dưới nhường, già trẻ được yên vui. Ở đây, người cao tuổi nhất trong nhà (là cụ, là ông bà, cha mẹ) được kính cẩn phụng dưỡng. Giữa vợ chồng gần gũi mà không buông tuồng, lời nói đến cử chỉ, giữ được ôn hòa, trang nhã, đương nhiên, không phải mọi gia đình đều được như thế. Do địa vị xã hội, hoàn cảnh gia đình, trình độ hiểu biết khác nhau, nhưng nói chung cách ứng xử vợ chồng như trên là đúng đắn, là mẫu mực để noi theo. Việt Nam có truyền thống hiếu học rất quý báu mà tiêu biểu ở đỉnh cao Thăng Long.
Bia tiến sĩ trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Thăng Long có Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của cả nước, tinh hoa nền giáo dục Việt Nam tỏa đi từ nơi ấy. Thăng Long có đội ngũ trí thức đông đảo nhiều thầy học nổi tiếng. Có hàng vài chục thầy là tế tửu (hiệu trưởng) hoặc tư nghiệp (hiệu phó) ở Quốc Tử Giám. Không biết đã bao lần Thăng Long được chứng kiến hàng vạn lượt sĩ tử bốn phương lều chõng kéo đến trường thi và quang cảnh những ngày hội lớn, các ông trạng, ông nghè võng lọng xênh xang trên đường vinh quy bái tổ được nhà vua cho đi thăm cảnh phố phường và ra mắt công chúng. Trong một môi trường luôn được tiếp xúc với việc giảng dạy, học tập và thi cử như vậy, tinh thần hiếu học của nhân dân Thăng Long càng được kích thích. Nhà nhà học tập, người người học tập. Không chỉ những gia đình quyền thế, giàu có con em đi học cốt giành địa vị cao sang, mà cả những nhà thường dân, cũng gắng cho con em có dăm ba chữ được mở mày mở mặt. Với truyền thống hiếu học, nhiều thuần phong mĩ tục đã hình thành. Đó là tinh thần tôn sư trọng đạo, người thầy ở địa vị cao hơn cả vị trí người cha trong mối quan hệ quân-sư-phụ. Đó là sự chuẩn bị nghiêm cẩn của cha và con trong buổi nhập môn, tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề cha đưa con đến nhà thầy và đi lễ thánh sư Khổng phu tử. Việc học tập ngày càng được coi trọng và trở nên thiêng liêng trong tâm thức mọi người. Cả kinh thành quý trọng chữ nghĩa đến mức không dám dẫm lên giấy có chữ hoặc dùng giấy có chữ để bao gói, lau chùi, cho rằng làm như vậy là có tội. Thường ngày, có những người hàng phố đi nhặt giấy có chữ về đốt vàng mã. Người ta đề ra mọi thứ kiêng kị cho trẻ như: không ăn cơm cháy sợ ăn sẽ bị tối dạ. Không ăn chân gà, sợ viết run tay. Không học bài vào giờ gà lên chuồng, sợ bị quáng gà và học bài lâu thuộc… Nhiều điều vô lí, nhưng lại có tác dụng thực tế gây thêm ý thức trân trọng mọi thứ liên quan đến học tập.
Theo quan điểm Nho giáo, quan hệ bạn bè là một trong năm quan hệ cơ bản của xã hội phong kiến. Quan hệ bạn bè lấy sự tin cậy lẫn nhau (chữ tín) làm đầu. Ở thủ đô, nơi tập trung mọi hoạt động kinh tế - xã hội, đầu mối giao lưu của đất nước, người Thăng Long có sự giao tiếp rộng rãi. Bè bạn đông và có nhiều loại, nhưng người dân Thăng Long giữ được sự trong sáng của tình bạn cùng những phong tục giao tiếp tốt đẹp. Có sự kết bạn giữa những người cùng chí hướng, tri âm tri kỉ. Họ sẵn sàng chia sẻ mọi nỗi buồn vui, giúp nhau khi hoạn nạn. Thăng Long cũng như nhiều nơi có sự kết bạn đồng môn những người cùng học một thầy, hoặc cùng đỗ một khoa cùng làm quan tại triều đình. Nhưng trong các quan hệ này một khi đã coi nhau như là bạn thì không chấp nhận sự ngăn cách vì địa vị cao thấp. Như Nguyễn Quý Kính (ở Đại Mỗ, huyện Từ Liêm) và Hoàng Thì Trung (ở Yên Hòa, huyện Từ Liêm), hai người đỗ cùng khoa. Một người ra làm quan tới chức Tham tụng kiêm Thượng thư bộ Lại, một người về nhà dạy học, làm dân thường. Tuy vậy, hai người vẫn là đôi bạn thân, họ vẫn cùng nhau thoải mái mọi nhẽ trong sinh hoạt mỗi lần gặp nhau. So với người nơi khác thì người Thăng Long nói chung giàu có, văn hóa cao, do đó có điều kiện hơn để duy trì những thủ tục, lễ nghi theo tập quán cổ truyền. Nhưng phú quý sinh lễ nghĩa, người Thăng Long không chỉ áp dụng mà còn sửa đổi và thêm thắt, có trường hợp còn bày vẽ thêm, đặc biệt là về cưới xin, ma chay, giỗ tết, làm cho nhiều thủ tục trở nên rườm rà, cầu kì và tốn kém. Tuy nhiên cái làm nên cốt cách Thăng Long trong phong tục tập quán không phải ở chỗ phú quý sinh lễ nghĩa ấy mà ở chỗ người Thăng Long đã biểu lộ được phần nào sự tinh tế của mình trong khi thực hiện những điều ấy. Chính như vậy, những người Thăng Long đã thu hút được cảm tình của người hàng xứ nhờ có được sự thanh lịch, một trong những vẻ đẹp tiêu biểu của người Thăng Long trong mọi hoàn cảnh giao tiếp.
Nhất cao là núi Ba Vì Nhất thanh, nhất sắc, Kinh Kỳ Thăng Long Nhân dân ta giàu lòng hiếu khách. Lòng hiếu khách ấy ở người Thăng Long càng được thể hiện rõ. Đến một gia đình Thăng Long, khách được đón tiếp niềm nở, chân tình. Lúc muốn về bao giờ cũng được chủ nhà lưu luyến, cố níu giữ lại bằng mọi lí do thiện cảm. Khách từ nơi xa tới dễ dàng bắt gặp những nụ cười thân thiện cùng lời chào vồn vã của những người buôn bán ở các nhà hàng, quán trọ khi giao tiếp. Những dịp hội hè, thi cử, khách bốn phương kéo đến đông, đều cảm thấy dễ chịu khi tiếp xúc. Ở đây có tục lệ quét dọn nhà cửa sạch sẽ và sắp sẵn nước nôi bên đường để đón khách. Những nhà khá giả còn dọn mấy mâm cơm rồi cử người ra đường mời khách. Đây chính là những dịp để người Thăng Long tỏ lòng mến khách và khách cảm nhận rõ hơn những nét đáng yêu của người Tràng An
Theo: Báo ảnh Việt Nam
|